Tín dụng là gì? Một số vấn đề chung về Tín dụng Ngân hàng

Nội dung bài viết:
1. Khái niệm tín dụng
2. Nguyên tắc tín dụng
3. Bảo đảm tín dụng
4. Các hình thức cho vay
5. Rủi ro tín dụng

Một số vấn đề chung về tín dụng ngân hàng

1. Khái niệm tín dụng

Tín dụng trong từ điển tiếng Việt được định nghĩa là sự vay mượn tiền mặt và vật tư hàng hóa.

Tín dụng trong tiếng Anh là “Credit” nếu sử dụng như động từ, nó đồng nghĩa với belive, accredit tức là tin; nếu sử dụng như danh từ nó là sự tín nhiệm, thế lực, công trạng, thẻ tín dụng, sự tin tưởng, bán chịu, ảnh hưởng, lòng tin, danh vọng.

Tín dụng là biểu hiện mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tín dụng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời cho quá trình tái sản xuất và đời sống, theo nguyên tắc hoàn trả.

Theo Wikipedia – Xem thêm

Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời gian xác định với một khoản chi phí nhất định. Tín dụng ngân hàng chứa đựng 3 nội dung chính như sau:

  • Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sử dụng.
  • Sự chuyển nhượng này có thời hạn.
  • Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí.

2. Nguyên tắc tín dụng

Tín dụng ngân hàng có 2 nguyên tắc:

  • Sử dụng vốn đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
  • Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.

3. Bảo đảm tín dụng

Bảo đảm tín dụng là việc mà khách hàng sử dụng tài sản thuộc sở hữ hợp pháp của mình (hoặc của một người thứ 3) để làm cơ sở bảo đảm cho dư nợ tín dụng tại ngân hàng trong một khoảng thời gian nhất định. Nếu đến hạn, khách hàng không hoàn thành nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi, thì ngân hàng có quyền phát mãi tài sản bảo đảm của khách hàng để thu hồi nợ. Các hình thức bảo đảm tín dụng bao gồm:

  • Bảo đảm tín dụng bằng tài sản thế chấp: thế chấp tài sản là việc một bên (bên thế chấp) dùng tài sản là bất động sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia.
  • Cầm cố tài sản: là việc một bên (bên cầm cố) dùng tài sản là động sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.
  • Bảo đảm tín dụng bằng hình thức bảo lãnh: Là một hợp đồng, qua đó bên thứ ba – người bảo lãnh, cam kết với ngân hàng rằng sẽ thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng. Gồm 2 loại: Bảo lãnh bằng tài sản và bảo lãnh bằng tín chấp.
  • Bảo đảm tài sản hình thành từ vốn vay: Bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay là việc khách hàng vay sử dụng tài sản hình thành từ vốn vay để đảm bảo thực hiện nhiệm vụ trả nợ cho chính khoản vay đó đối với ngân hàng.

4. Các hình thức cho vay

  • Căn cứ vào thời hạn cho vay:
    • Cho vay ngắn hạn: Khoản vay có thời hạn từ 12 tháng trở xuống. Nhằm bù đắp sự thiếu hụt vốn của doanh nghiệp hay nhu cầu chi tiêu ngắn hạn cá nhân.
    • Cho vay trung và dài hạn: Khoản cho vay có thời hạn trên 12 tháng. Nhằm đáp ứng nhu cầu trang bị, đầu tư tài sản cố định, mở rộng sản xuất, thực hiện dự án đầu tư.
  • Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn
    • Cho vay sản xuất kinh doanh: bổ sung nhu cầu đầu tư tài sản cố định, mở rộng sản xuất, bổ sung thiết hụt.
    • Cho vay sinh hoạt tiêu dùng: dùng để chi tiêu cá nhân như mua nhà, phương tiện đi lại.
  • Căn cứ vào khách hàng vay
    • Khách hàng là doanh nghiệp.
    • Khách hàng là cá nhân.
  • Căn cứ vào phương thức cho vay
    • Cho vay từng lần: mỗi lần vay vốn khách hàng và tổ chức tín dụng thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.
    • Cho vay theo hạn mức tín dụng: tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định.
    • Cho vay theo dự án đầu tư: tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống.
    • Cho vay trả góp: khi vay vốn, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thỏa thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc đưa chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay.
    • Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: tổ chức tín dụng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là các đại lý của tổ chức tín dụng. Khi cho vay phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, tổ chức tín dụng và khách hàng phải tuân theo các quy định của Chính phủ và NHNN Việt Nam về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.
    • Cho vay theo hạn mức thấu chi: là việc cho vay mà tổ chức tín dụng thỏa thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ và NHNN Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.
    • Các phương thức khác: pháp luật không cấp, phù hợp với quy định tại quyết định 1627/2001/QĐ/-NHNN và điều kiện hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng, đặc điểm của khách hàng vay.

5. Rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng là sự xuất hiện những biến cố không bình thường trong quan hệ tín dụng, từ đó tác động xấu đến hoạt động của ngân hàng và có thể làm cho khách hàng lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán cho ngân hàng.

Rủi ro tín dụng được phân chia thành các loại

  • Rủi ro giao dịch:
    • Rủi ro lựa chọn là rủi ro liên quan đến thẩm định và phân tích tín dụng.
    • Rủi ro đảm bảo xuất phát từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo và mức an toàn của nó.
    • Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến quản trị hoạt động cho vay như xây dựng và thực hiện chính sách tín dụng để định hướng cho việc thực hiện vay và kiểm soát danh mục vay, tái xét và giám xét danh mục cho vay bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề.
  • Rủi ro danh mục
    • Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố riêng biệt của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành kinh tế.
    • Rủi ro tập trung là mức dư nợ cho vay được dồn vào một số khách hàng, một số ngành kinh tế hoặc một số loại cho vay hoặc một khu vực địa lý.

Biểu hiện của rủi ro tín dụng chính là nợ xấu. Nợ xấu là các nhóm nợ thuộc nhóm 3, 4 và 5.

  • Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn)
    • Nợ trong hạn và được đánh giá là có khả năng thu hồi nợ đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn.
    • Nợ quá hạn dưới 10 ngày và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi còn lại đúng hạn.
  • Nhóm 2 (Nợ đủ tiêu chuẩn)
    • Nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày.
    • Nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu.
  • Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn)
    • Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày.
    • Nợ gia hạn lần đầu.
    • Nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng.
  • Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ)
    • Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày.
    • Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu.
    • Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai.
  • Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn)
    • Nợ quá hạn trên 360 ngày.
    • Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu.
    • Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai.
    • Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn.

Theo “Các nghiệp vụ cơ bản ngân hàng thương mại Việt Nam”,
Châu Văn Thưởng – Phùng Hữu Hành (2013)

Gửi bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *